Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Bản tin

Bản tin
Thứ 6, Ngày 13-03-2015, 23:00
Chuyên đề tháng 2
“Già làng văn hóa” Cơ Tu
CCB Alăng Bảy, 85 tuổi, trú tại thôn BhHôồng 1, xã Sông Kôn, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam có bề dày thành tích đáng nể. Trên vách căn nhà cấp 4 treo trang trọng hơn 50 Huân, Huy chương, Bằng khen, Giấy khen các loại.
Alăng Bảy sinh ra ở gia đình Cơ Tu nghèo. Lớn lên trong sự ác liệt của chiến tranh, bao lần chứng kiến quân địch sát hại đồng bào, đốt phá bản làng mình, năm 1958 Alăng Bảy thoát li theo cách mạng, tham gia hàng trăm trận đánh, đã 5 lần bắn rơi máy bay Mỹ chỉ với khẩu súng trường. Năm 1962, Alăng Bảy được kết nạp Đảng; năm 1963 được điều về tăng cường cho Huyện đội Tây Giang làm trợ lí tác chiến. Khi đó khu vực 3 xã: Lăng, Atiêng, Anông là ngã ba trung tâm Nam Bắc Việt Nam – Lào trên tuyến đường Trường Sơn, là khu vực trọng yếu của chiến trường Khu V. Sau đó, Ban Chỉ huy Quân sự huyện Tây Giang điều Alăng Bảy về xã Atiêng với chức vụ Chính trị viên (cấp bậc Đại úy) kiêm Xã đội trưởng, Chủ tịch UBND rồi Bí thư Đảng ủy xã Atiêng. Năm 1995 cụ về hưu vẫn còn mang trên người 4 vết thương chiến tranh, một mảnh lựu đạn còn nằm trong đùi phải.

Cụ Alăng Bảy thổi khèn truyền thống người Cơ Tu.

Được nghỉ hưu, nhưng CCB Alăng Bảy vẫn được mọi người tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Hội Nông dân, Phó Chủ tịch Hội CCB xã Sông Kôn. Vừa làm công tác đoàn thể địa phương, vừa làm kinh tế với hơn 5ha rừng trồng, kết hợp chăn nuôi bò, gia đình CCB Alăng Bảy đã trở thành hộ dân kinh tế khá giả. Alăng Bảy còn vận động, tuyên truyền, giảng dạy các điệu hát lí, các khúc dân ca, cách sử dụng nhiều loại nhạc cụ dân tộc cho thanh niên trong làng, cụ chơi được 7 loại nhạc cụ truyền thống. Tại Đại hội Văn hóa – Thể thao huyện Đông Giang lần thứ V vừa qua, già làng Alăng Bảy nhận giải Nhất biểu diễn nhạc cụ dân tộc. CCB Alăng Bảy vận động bà con xây dựng đời sống văn hóa, văn minh, bãi bỏ hủ tục về ma chay, cưới xin tốn kém, phát động phong trào "Ông bà mẫu mực, con cháu hiếu thảo"; phối hợp với các thành viên Mặt trận vận động bà con hưởng ứng tốt công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình, chính sách hậu phương Quân đội, tuân thủ pháp luật của Nhà nước, chung tay xây dựng nông thôn mới, bản làng không còn cảnh rượu chè bê tha, không trông chờ ỷ lại cấp trên…

"Người Cơ Tu, qua hai cuộc kháng chiến, dù gian khổ, hi sinh, mất mát… nhưng vẫn một lòng đi theo Bác Hồ, đi theo Cách mạng, rất đáng trân trọng và tự hào. Tuy nhiên, do hoàn cảnh, điều kiện, trình độ… có hạn nên hiểu biết còn hạn chế, mình phải tranh thủ đọc báo, nghe thêm đài, tiếp thu các kiến thức để nói lại cho bà con mình nghe…", cụ Alăng Bảy cho biết.

Mỗi lần trong làng có lễ hội, cụ Alăng Bảy lại hăng say tập luyện cho trai tráng trong làng đánh trống chiêng. Đêm đêm bên bếp lửa nhà Gươl, dân làng lại được nghe tiếng sáo Areeng hay tiếng đàn Arưl của cụ. Người dân xã Sông Kôn  "phong" cụ là "Già làng văn hóa" Cơ Tu.

 Tiên Sa

Tiên Sa. "Già làng văn hóa" Cơ Tu// Người cao tuổi.- 2015.- Ngày 4 tháng 02.- Tr.4.​


Cạn kiệt sâm Ngọc Linh: Đắt xắt ra miếng

Chỉ những người giàu có mới đủ điều kiện để sử dụng loại "thần dược" sâm Ngọc Linh thật vì quá đắt đỏ

Xã Trà Linh, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam được xem là "thánh địa" của cây sâm Ngọc Linh. Tuy ở thâm sơn cùng cốc, chưa có đường giao thông nối với trung tâm huyện nhưng nơi đây có rất nhiều tỉ phú. Nhờ vào nguồn lợi từ cây sâm Ngọc Linh, mỗi đợt thu hoạch sâm, nhiều gia đình thu về hàng tỉ đồng.

Giấu sâm như giấu của

Từ trung tâm huyện Nam Trà My, chúng tôi ngược xe máy lên điểm Trường Tiểu học Ngọc Linh (xã Trà Linh). Từ đây, chúng tôi chỉ có thể gửi xe máy để leo lên những con dốc dài mà mỗi bước chân là một lần đầu gối chạm mặt. Con đường mòn xuyên qua những vạt cỏ lau cao quá đầu người, thi thoảng lại len lỏi giữa những tán rừng và những ruộng bậc thang xanh ngắt. Sau gần nửa ngày cuốc bộ trên những tầng mây trắng, chúng tôi có mặt ở Trà Linh với đôi chân rã rời, mồ hôi rịn đẫm áo.


Một vườn sâm của người dân xã Trà Linh, huyện Nam Trà MyẢnh: NGUYÊN ĐĂNG

Hỏi đường đến vùng trồng sâm, bà con dân tộc Xê Đăng đều lắc đầu: "Không có cán bộ dẫn đường thì các anh không lên được đâu. Ở đây không một ai nói cho người lạ biết mình trồng bao nhiêu sâm cả. Họ giấu kỹ lắm! Hơn nữa, muốn đi vào chỗ trồng sâm cũng mất thêm vài giờ đi bộ nữa" - già làng Trần Xuân Đoàn tiết lộ.


Sâm Ngọc Linh được xếp vào 1 trong 4 loại sâm tốt nhất thế giới và có rất nhiều công dụng quý Ảnh: NGUYÊN ĐĂNG

Ở đỉnh Ngọc Linh, ông Hồ Văn Du (nóc Măng Lùng, thôn 2, xã Trà Linh, nguyên Trại phó Trại dược liệu sâm Trà Linh) được người dân đồn là giàu có nhất xã nhờ trồng sâm. Ngoài ra còn có anh Hồ Văn Lượng, một đại gia sâm mới nổi lên ở Trà Linh.

Tiếp chúng tôi khi đang chuẩn bị vào rừng canh giữ sâm, anh Lượng cho biết nhà nghèo nên từ nhỏ, anh đã qua tỉnh Kon Tum làm thuê kiếm sống. Khi sâm Ngọc Linh được giá, anh cùng mọi người vào rừng đào bới để bán. Đến lúc nguồn sâm tự nhiên cạn kiệt, anh và người dân chuyển qua trồng sâm. Sẵn chút kinh nghiệm trồng sâm học hỏi ở Kon Tum, anh đưa vợ về Măng Lùng bắt đầu gầy dựng vườn sâm.

Mang ra một hũ rượu ngâm chật củ sâm mời chúng tôi uống, anh Lượng tỏ ra niềm nở nhưng lại lảng tránh chuyện vườn sâm và số lượng. Chỉ khi rượu vào lời ra, đại gia này mới bắt đầu tiết lộ hiện anh trồng hơn 1.000 gốc sâm 9 năm tuổi, 3.000 gốc 6 năm tuổi.

Chỉ tay vào củ sâm nhỏ bằng ngón tay út, anh Lượng cho biết giá củ sâm này "bèo" nhất cũng hơn 1 triệu đồng. "Ba gốc sâm cho 1 lạng, loại này có giá 30 triệu đồng/kg, loại nhỏ hơn thì từ 15-20 triệu đồng/kg. Vì giá cao nên rất dễ bị mất trộm. Người trồng sâm ở đây đều phải tuân "luật" nghiêm ngặt, những người lạ mặt như các anh thì không được vào đâu" - anh Lượng thổ lộ.

Với lượng sâm khổng lồ trên, quả là không sai khi bảo anh Lượng là một trong những tỉ phú của núi rừng Ngọc Linh. Người ở Măng Lùng kể vườn sâm của anh rộng lắm, hiện thuê đến 7 người ngày đêm canh giữ.

Khẩu vị của nhà giàu

Trước đây, anh Lượng thường bán sâm cho thương lái nhỏ lẻ nhưng sau này chỉ cung cấp cho các đối tác làm ăn ở Hà Nội, TP HCM. "Nhà ai có nhiều sâm thì sẽ giàu có. Ở nơi đây mình giữ uy tín, không có chuyện gian dối nên buôn bán rất thuận lợi" - anh Lượng tiết lộ bí quyết làm giàu.

Theo anh Nguyễn Hà - một người kinh doanh sản phẩm sâm Ngọc Linh ở TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam - do giá sâm quá cao nên sản phẩm của anh chủ yếu cung cấp cho những người giàu có. Để bảo đảm chất lượng, chỉ khi khách hàng có nhu cầu, anh mới đặt hàng từ Nam Trà My đưa xuống. Sâm Ngọc Linh dao động giá tùy thuộc độ tuổi. Loại cao nhất là sâm lâu năm giá từ 55-70 triệu đồng/kg nhưng rất hiếm. Loại thường 10 củ/kg giá trên 40 triệu đồng, loại 20 củ/kg khoảng 30 triệu đồng. Thấp nhất là loại từ 40-60 củ/kg có giá 15 triệu đồng. Tuy nhiên, phải mất 2-3 ngày, người dân mới gom đủ sâm để cung cấp cho khách hàng.

Ông Hồ Quang Bửu, Chủ tịch UBND huyện Nam Trà My, cho biết sâm Ngọc Linh có nhiều công dụng nhưng trồng với số lượng khiêm tốn nên dường như chỉ người giàu mới tiếp cận được. Do thiếu ăn trong những tháng giáp hạt, nhiều hộ gia đình nhổ bán sâm non khi chưa đến tuổi khai thác dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. Bên cạnh đó, tình trạng mất trộm sâm trong người dân thường xuyên xảy ra, nhiều hộ tự nhổ bán làm cạn kiệt nguồn cây giống.

Nhận thấy địa phương được ưu ái bằng loại cây quý hiếm này, mới đây, huyện Nam Trà My đã trình UBND tỉnh Quảng Nam xem xét để trình lên trung ương dự án quốc gia về phát triển cây sâm Việt Nam (sâm Ngọc Linh) tại huyện Nam Trà My và tỉnh Kon Tum.

"Song song với việc mở rộng diện tích trồng cây sâm bằng cách di thực xuống ở địa hình thấp hơn, dự án hướng tới xây dựng thành công thương hiệu sâm Việt Nam. Sản xuất được những mặt hàng công nghiệp có giá trị kinh tế cao từ nguồn nguyên liệu sâm Ngọc Linh để tạo nên dược phẩm đặc hữu của quốc gia và phục vụ cho nhiều đối tượng khác nhau, góp phần phát triển ngành dược và kinh tế của địa phương" - ông Bửu khẳng định.

Quảng Nam: Sâm giả hết đất sống

Khác với thủ phủ sâm ở Kon Tum, dường như sâm giả ở Quảng Nam không còn đất sống. Anh Lượng kể trước đây, khi cây sâm sốt giá và người dân vẫn còn mù mờ thì sâm giả có nhiều. Tuy nhiên, từ lúc con của một cán bộ xã Trà Linh bị bắt vì cung cấp sâm giả thì dường như ai cũng sợ, không dám bán hàng giả nữa.

 

QUANG VINH - NGUYÊN ĐĂNG

Quang Vinh- Nguyên Đăng.- Cạn kiệt sâm Ngọc Linh: Đắt xắt ra miếng// Người lao động.- 2015.- Ngày 07 tháng 02.- Tr.8.


Hết lòng vì học sinh xã đảo

 

Chiếc tàu chở hàng hóa lẫn hành khách rời bến đò Hội An đạp lên những con sóng dữ đưa chúng tôi đến với đảo Cù Lao Chàm, đến với những giáo viên "cắm đảo" ngày đêm miệt mài ươm mầm con chữ.

Theo hướng dẫn của cô giáo Lê Thị Bích Liên - Hiệu trưởng Trường MN Tân Hiệp (xã Tân Hiệp, TP Hội An, Quảng Nam) chúng tôi men theo con đường nhỏ chênh vênh giữa một bên là sườn núi, một bên là vực đá sâu, đến với giáo viên, học sinh điểm trường thôn Bãi Hương.

Theo lời cô Liên, hiện nay ngoài điểm trường chính đóng chân tại thôn Bãi Làng, Trường MN Tân Hiệp còn có thêm một điểm trường lẻ ở thôn Bãi Hương cách trung tâm xã hơn 4km. Số lượng học sinh càng ngày càng giảm và hiện toàn trường có 80 trẻ. So với học sinh ở điểm chính thì điều kiện học tập của các em ở điểm lẻ nhiều khó khăn hơn, cuộc sống, hoạt động giảng dạy của giáo viên vất vả hơn.


Cô Thành luôn dành sự yêu thương đặc biệt đối với các em trong từng tiết dạy.

Điểm trường thôn Bãi Hương nằm giữa xóm chài, xung quanh là những nếp nhà sàn đơn sơ của người dân. Năm học 2014-2015, ở thôn Bãi Hương có 1 lớp mầm non 8 cháu với nhiều độ tuổi do cô Ngô Thị Thành phụ trách. Tình thương yêu của giáo viên không chỉ thể hiện qua từng tiết dạy, từng bài học, mà còn thể hiện qua sự nhiệt tình chăm chút đến những việc nhỏ nhặt nhất trong sinh hoạt và vui chơi cho trẻ.

Cô Thành quê xã Cẩm Thanh, Hội An, gần 25 năm gắn bó với điểm trường thôn Bãi Hương. Cô Thành chia sẻ "Các bé ở đây thiệt thòi hơn nhiều so với các bé ở đất liền; bởi vậy, chúng tôi luôn cố gắng để bù đắp phần nào những thiệt thòi khi các cháu sinh ra giữa biển đảo còn trăm bề thiếu thốn. Ở đây, giáo viên không chỉ dạy kiến thức và chăm sóc học sinh, mà còn chỉ bảo những nề nếp sinh hoạt hằng ngày nhằm giúp học sinh khỏi bỡ ngỡ khi vào đất liền học tập".

Lớp học ở Bãi Hương, ngoài những bộ đồ chơi được phòng GD&ĐT trang bị phục vụ dạy học theo từng chủ đề, chủ điểm, còn có thêm những bộ đồ dùng dạy học do  cô Thành tự làm từ những vật liệu đặc trưng của biển nơi đây. Cô Thành còn xây dựng từng góc học tập dành riêng cho từng nhóm tuổi, vì vậy mỗi giờ học của cô luôn cuốn hút, hấp dẫn các em.

Cô là một điển hình tiêu biểu của giáo viên "cắm đảo". "22 năm tôi dạy học ở Bãi Hương, cũng chừng đó năm chồng tôi cũng lưới, câu mưu sinh giữa giông gió biển khơi. Thấy tôi vất vả, chăm bẵm từng đứa trẻ, anh chưa một lời kêu ca hay bảo vợ chuyển nghề mà lúc nào cũng động viên tôi hoàn thành nhiệm vụ", cô Thành chia sẻ.

Dẫu cuộc sống gia đình khó khăn như bao nếp nhà khác trên đảo, nhưng ngày ngày cô lạc quan quên đi những vất vả đời thường để dành trọn tấm lòng yêu thương cho thế hệ tương lai của đảo. Và người dân nghèo khó cù lao luôn xem sự hiện diện của cô, của ngôi trường là biểu tượng của niềm tin, hy vọng và ước mơ về một tương lai tốt đẹp cho con em trên đảo.

Đại Khải

Đại Khải. Hết lòng vì học sinh xã đảo.-Công an thành phố Đà Nẵng.-2015.- Ngày 09 tháng 02.- Tr.15.


Khôi phục nghề dệt dồ truyền thống Xơ Đăng

Người Xơ Đăng ở Quảng Nam sống tập trung tại các xã vùng cao H. Nam Trà My. Đây là dân tộc có truyền thống dệt vải, nhất là nghề dệt dồ (dệt thổ cẩm) nổi tiếng từ xưa đến nay.

Bà Hồ Thị Kim Thiên, nghệ nhân ở xã Trà Linh gắn bó với nghề dệt dồ hơn 30 năm qua, luôn trăn trở tìm cách khôi phục và duy trì nghề truyền thống của dân tộc mình. Ngay từ lúc nhỏ, cô bé Thiên đã được mẹ tập cho làm quen với kêvai (khung dệt), tập làm các kariêu, karuông, kaxa (các con thoi to, nhỏ) rồi học kéo sợi, phối màu, các họa tiết hoa văn để dệt nên những tấm dồ, tấm choàng, chiếc khố, áo váy... Tuy nhiên, nghề dệt dồ truyền thống của người Xơ Đăng dưới chân núi Ngọc Linh có nguy cơ mai một vì đại bộ phận phụ nữ trẻ không được truyền nghề một cách bài bản.

Từ năm 2006, khi H. Nam Trà My triển khai chương trình khôi phục làng nghề dệt dồ tại địa phương, bà Thiên vui lắm. Ngôi nhà của bà trở thành nơi truyền nghề cho lớp trẻ. Những lúc nông nhàn, những ngày mưa gió không lên rẫy, những phụ nữ trong bản lại tụ tập nhau dệt dồ. Người già dạy cho lớp trẻ, người có kinh nghiệm chỉ thêm cho người mới vào nghề, cả đàn ông và trẻ con cũng hào hứng tham gia. Theo bà Thiên, thu nhập của nghề dệt dồ tùy thuộc vào từng loại và giá trị của mỗi sản phẩm. Giá bán tại chỗ của mỗi sản phẩm từ 500.000 - 700.000 ngàn đồng. Tiền công mỗi ngày dệt khố, áo váy từ 40.000 - 45.000 đồng.  "Trước đây, người già trong làng ai cũng biết dệt dồ, nhưng do chiến tranh nên ít người còn làm nghề. Nay được huyện quan tâm đầu tư khôi phục nên dân mình vui lắm vì dệt dồ vừa giữ được nghề truyền thống vừa có thêm việc làm, tăng thu nhập cho các gia đình"-bà Thiên nói.


Khôi phục nghề dệt dồ truyền thống Xơ Đăng.

Từ năm 2006, chương trình dạy nghề dệt dồ được Phòng Công thương H. Nam Trà My triển khai tại 2 xã Trà Nam và Trà Linh với 35 bộ khung dệt, thu hút hơn 40 chị em phụ nữ địa phương tham gia học nghề. Huyện đã mời 10 nghệ nhân còn giữ được kỹ thuật dệt để dạy cho các học viên. Các sản phẩm được tập trung khôi phục và truyền nghề cho các học viên chủ yếu là tấm dồ, váy, khố, thổ cẩm và nhiều loại khăn choàng. Để dệt hoàn thiện mỗi sản phẩm người thợ phải cần mẫn làm việc từ 3 đến 4 ngày, do công đoạn dệt các hoa văn và họa tiết tốn thời gian.

Đối với các tấm dồ, hoa văn phải giống hệt như họa tiết vẽ trên cây nêu trong các lễ hội đâm trâu của người Xơ Đăng. Thời gian đầu khôi phục các tổ dệt dồ, sản phẩm dồ, thổ cẩm được dệt ra được may thành những bộ trang phục truyền thống cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú. Huyện cũng giao về cho các đội cồng chiêng thiết kế thành sắc phục mặc trong các ngày lễ hội nhằm phát huy nét đẹp văn hóa của người Xơ Đăng, đồng thời quảng bá ra các địa phương khác trong các dịp lễ hội, các sự kiện của địa phương và trong nghệ thuật biểu diễn cồng chiêng.

Ông Lê Ngọc Kích-Phó Chủ tịch UBND H. Nam Trà My cho biết, chương trình khôi phục nghề dệt dồ của đồng bào Xơ Đăng được đầu tư 120 triệu đồng mỗi năm. Ngoài những khung dệt nằm rải rác trong nhà dân, huyện đã khôi phục 15 tổ dệt dồ tại các xã Trà Linh và Trà Nam. UBND huyện hỗ trợ mỗi tổ 40 triệu đồng mua sắm khung dệt, nguyên liệu và tổ chức hướng dẫn nghề dệt dồ cho phụ nữ. Khôi phục và mở rộng làng nghề dệt dồ là chủ trương của huyện và là nguyện vọng chung của nhân dân, nhằm góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào.

Chủ trương đã có, người dân cũng phấn khởi với việc phát triển làng nghề truyền thống của dân tộc mình, nhưng khó khăn hiện nay vẫn là nguồn nguyên liệu và đầu ra cho sản phẩm. Giống bông địa phương làm nguyên liệu rất tốt, khi nhuộm sợi chỉ có màu đẹp, dệt sản phẩm bán được giá cao nhưng trồng thì trái nhỏ, năng suất thấp. Giá thành sản phẩm dệt dồ khá cao so với thu nhập của người dân địa phương. Để giải quyết khó khăn về nguyên liệu, H. Nam Trà My triển khai dự án thử nghiệm giống bông cho năng suất cao để chuyển giao kỹ thuật cho đồng bào gieo trồng trên diện rộng.

Về đầu ra của sản phẩm nghề dệt dồ, từ năm học 2007-2008, huyện quyết định cấp kinh phí hỗ trợ 20 trường tiểu học và THCS may đồng phục cho hơn 6.000 học sinh ở các địa phương trong huyện. Những làng nghề dệt dồ dưới chân núi Ngọc Linh sẽ phát triển mạnh hơn, bền vững hơn khi mô hình tổ kinh tế hợp tác được triển khai. Việc giới thiệu sản phẩm nghề dệt và trang phục truyền thống của người Xơ Đăng ở Hội An, Tam Kỳ, Đà Nẵng, Hà Nội, TPHCM... cũng được địa phương phối hợp với các ngành chức năng và các đối tác triển khai thực hiện.

Thạch Hà

Thạch Hà. Khôi phục nghề dệt dồ truyền thống Xơ Đăng// Công an thành phố Đà Nẵng.- 2015.- Ngày 26 tháng 2.- Tr.6.


Tình người xóm Lẫm

17 năm nay, hơn 20 hộ dân ở xóm Lẫm (xã Tam Thạnh, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) cùng nhường cơm sẻ áo để nuôi một người phụ nữ bị tâm thần

Chúng tôi về xóm Lẫm trong những ngày cây cỏ đơm hoa kết trái đón đợi mùa Xuân mới. Ánh nắng vàng hắt lên từ cánh đồng mạ non soi rọi vào những nóc nhà cũ khiến khung cảnh làng quê hiện lên thật trữ tình và ấm áp. Ấn tượng đầu tiên khi đến xóm Lẫm là con đường đất dẫn vào xóm nhỏ được người dân quét dọn sạch bong.

Một cuộc đời bi kịch

Ông Ngô Quang Vinh, trưởng thôn Phước Thạnh (xã Tam Thạnh) - với 4 nhiệm kỳ làm trưởng thôn - là chứng nhân và cũng là người viết trang mở đầu cho câu chuyện cổ tích thấm đẫm tình người nơi xóm Lẫm. Nhấp ngụm nước trà, ông bắt đầu kể về cuộc đời đầy khổ hạnh của bà Phạm Thị Sòng (61 tuổi), người mắc bệnh tâm thần được xóm Lẫm cưu mang 17 năm nay.

 

Bà Phạm Thị Sòng (bìa trái) dùng bữa cơm trưa do nhà bà Bùi Thị Thu Tuyết nấu dọn

 

Mất mẹ từ nhỏ, những năm chiến tranh, Phạm Thị Sòng theo cha rời xóm Lẫm lưu lạc vào tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sinh sống. Sau giải phóng, hai cha con trở về quê hương lập nghiệp. Hạnh phúc đến với cô thôn nữ nghèo khi gặp được một người đàn ông tốt bụng yêu thương. Thế nhưng, trước ngày tổ chức lễ cưới, người ấy đột ngột qua đời. Dù mới làm lễ ăn hỏi nhưng Phạm Thị Sòng quyết định thủ tiết thờ chồng, dành thời gian chăm sóc cha già. Năm 1992, người cha bỏ bà ra đi do bệnh nặng. Chịu hai cú sốc quá lớn, lại không nơi nương tựa, bà Sòng phát điên.

Vào thời điểm này, dù lúc tỉnh lúc mê nhưng bà Sòng vẫn đi làm thuê trong thôn để kiếm sống qua ngày. Cho đến một ngày vào năm 1998, người dân xóm Lẫm không còn thấy người phụ nữ "điên điên" ấy nữa. Biết có chuyện chẳng lành, ông Vinh tìm đến nhà thì thấy bà Sòng bệnh nặng, nằm liệt giường. Bốn ngày không ăn uống, không ai chăm sóc, bà Sòng thoi thóp. Ông Vinh tức tốc đi gọi y tá đến khám, bốc thuốc chạy chữa cho bà. Suốt gần 5 tháng, vợ chồng ông trưởng thôn thay phiên nhau chăm sóc bà Sòng như người ruột thịt. Rồi bà khỏe lại nhưng đôi chân bị teo rút, căn bệnh tâm thần cũng trở nặng. Bà mê nhiều hơn tỉnh; cứ bò lết, đập phá mọi thứ.

Ông Vinh họp với bà con xóm Lẫm bàn cách giúp bà Sòng. Mọi người nhất trí từng gia đình sẽ luân phiên chăm lo cơm nước cho bà; còn việc vệ sinh hằng ngày thì chị em phụ nữ đảm nhiệm. "Tôi rất vui khi 100% hộ dân xóm Lẫm đồng ý cưu mang bà Sòng, không để bà ấy sống chết vì bệnh tật, đơn chiếc" - ông Vinh kể.

Bắt đầu từ đó, hơn 20 hộ dân ở xóm Lẫm đều đặn thay phiên nấu cơm và chăm sóc bà Sòng mỗi ngày. Gia đình họ ăn gì, bà Sòng ăn nấy. Tình cảm ấy được duy trì đã hơn 15 năm...

Những năm qua, cùng với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, bà con xóm Lẫm còn góp tiền của và công sức xây căn nhà nhỏ cho bà Sòng ở. Mới đây, có một khoản tiền nhỏ từ các nhà hảo tâm giúp đỡ, bà con xóm Lẫm lại tiếp tục góp thêm tiền và bỏ công xây lại mộ phần cho cha mẹ bà Sòng. "Từ việc lớn đến việc nhỏ, chúng tôi đều bàn bạc và chuẩn bị kỹ lưỡng, kể cả kêu thợ chụp ảnh cho bà Sòng, lỡ không may xảy ra chuyện thì còn có cái ảnh để mà thờ" - ông Vinh chia sẻ.

Bài học về lòng nhân ái

Đến ngôi nhà nhỏ của bà Phạm Thị Sòng nằm bên đường, chúng tôi có phần bất ngờ vì thực tế khác xa so với tưởng tượng. Căn nhà không có gì đáng giá nhưng được dọn dẹp hết sức gọn ghẽ. Bà Sòng nằm trên chiếc giường nhỏ rên rỉ, khi nghe tiếng người nói thì bật dậy. Gương mặt người phụ nữ khắc khổ điểm nhiều nếp nhăn, mái tóc chớm bạc được buộc gọn. Ban đầu, bà Sòng sợ người lạ nên liên tục đưa tay che mặt nhưng sau đó thì tỏ ra hết sức vui vẻ. "Các anh đã may mắn khi hôm nay bà Sòng có tâm trạng tốt. Mỗi khi phát bệnh, bà đập phá tất cả đồ đạc, kể cả quần áo, chăn màn. Bà con xóm Lẫm hằng ngày luôn ghé qua trông chừng, nhất là vào những ngày mưa" - ông Vinh cho biết.

Hơn 11 giờ, bà Bùi Thị Thu Tuyết (55 tuổi) mang cơm đến cho bà Sòng. Bữa cơm trưa tương đối tươm tất, gồm: cá, thịt, rau sống và một ít canh. Nhà có 7 miệng ăn, bữa cơm của gia đình bà Tuyết thường ngày đạm bạc nhưng hôm ấy đến phiên nên bà "đầu tư" thêm để tẩm bổ cho bà Sòng.

Nhà bà Sòng hôm có "nhà báo về" đông vui hơn hẳn bởi người dân kéo đến nhiều. Nhờ đó, bà Sòng bật cười và ăn rất ngon miệng. Chúng tôi cảm nhận được tình cảm dạt dào của người dân xóm Lẫm dành cho người đàn bà bất hạnh này. Ông Ngô Quang Vinh cho rằng nếu ví xóm Lẫm như một gia đình thì bà Sòng là một thành viên trong gia đình ấy. Nhiều năm nay, bà Sòng đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người dân. Bà cũng là người kết nối cho những tình cảm nảy nở, kết nối cho các thế hệ già trẻ cùng nhau làm việc thiện. "Chúng tôi chăm sóc bà Sòng vì cái tình người, qua đây còn giáo dục các thế hệ con cháu về lòng yêu thương người gặp khó khăn, bất hạnh trong cuộc sống" - ông Vinh bộc bạch.

 

Chốn bình yên

Người dân xóm Lẫm có tinh thần tương thân tương ái từ lâu. Ngày trước, dân làng nơi đây cùng trồng lúa, đến mùa thu hoạch đưa vào một dụng cụ đựng lúa gọi là cái lẫm để cả làng ăn chung. Nhiều người từ địa phương khác đến đây thấy chuyện kỳ lạ nên gọi khu dân cư này là xóm Lẫm. Trưởng thôn Ngô Quang Vinh cho biết người dân xóm Lẫm chủ yếu làm rừng và trồng lúa, tuy đời sống còn nhiều khó khăn nhưng ở nơi đây rất yên bình, chưa bao giờ xảy ra mất trộm dù chỉ một con gà!

 

Bài và ảnh: Quang Vinh

Quang Vinh. Tình người xóm Lẫm.- Người lao động.- 2015.- Ngày 08 tháng 02.- Tr.9.

 



Thấy gì từ chuyến du lịch "Hương sắc Cơ Tu"?

Về xã Tà Bhing (H.Nam Giang, Quảng Nam) những ngày này, khách du lịch sẽ được chiêm ngưỡng và trải nghiệm những không gian văn hóa, lịch sử đặc sắc của người Cơ Tu. Giảm nghèo bằng cách tạo thêm những nguồn thu nhập mới. Tăng giá trị du lịch của H.Nam Giang thông qua việc bảo tồn, cải thiện và tận dụng các nguồn lực thiên nhiên, văn hóa và xã hội. H.Nam Giang nói chung và xã Tà Bhing nói riêng đang từng bước phát triển nhờ làm tốt dự án du lịch dựa vào cộng đồng Cơ Tu.

Những hướng dẫn viên không chuyên

Trên đường Hồ Chí Minh đoạn qua Bến Giằng, chúng tôi gặp ông Bling Riêu (74 tuổi, xã Tà Bhing) đang đứng chờ đoàn du khách Nhật Bản. Ông Riêu từng là bộ đội tham gia chiến đấu chống Mỹ ngay trên địa bàn H.Nam Giang. Với người cựu chiến binh này, con đường Hồ Chí Minh như là một phần máu thịt của mình. Hôm nay, ông cũng đứng trên con đường lịch sử, dưới cái nắng miền núi dịu nhẹ nhưng không phải cầm súng bắn giặc mà là chuẩn bị làm... hướng dẫn viên du lịch. "Tôi là người đã từng chiến đấu chống giặc Mỹ tại nơi này. Đồng đội của chúng tôi đã hy sinh tại đây để bảo vệ từng tất đất của quê hương. Nay tôi rất vui mừng và tự hào khi được làm người dẫn khách du lịch đi tham quan nơi đây"-ông Riêu hào hứng chia sẻ.


Một du khách Nhật thích thú vẽ lại chiếc xe tải lịch sử.

Những người bạn Nhật Bản tỏ ra vô cùng thích thú khi được một nhân chứng lịch sử dẫn đi tham quan di tích chiến tranh đang được phục dựng lại. Với họ, Việt Nam và Nhật Bản có cùng một miền ký ức đau thương tột cùng bởi chiến tranh. Giờ đây, khi được tận mắt nhìn thấy những chiếc xe tải đã từng "xẻ dọc Trường Sơn", nhìn thấy những chiến hào từng là "tấm khiên" vững chắc bảo vệ bộ đội trước những trận "mưa" bom của địch... các du khách tỏ rõ sự thán phục của mình. Trong chuyến đi này chúng tôi còn gặp một cô gái Cơ Tu 23 tuổi rất thông thạo tiếng Anh. Nằm trong chương trình đào tạo hướng dẫn viên du lịch cho người Cơ Tu của Tổ chức cứu trợ và phát triển quốc tế (FIDR)-Nhật Bản, chị Alăng Xuân bắt đầu công việc này từ tháng 9-2014.

Với chị, đây không chỉ là nghề kiếm thêm thu nhập mà còn là môi trường để chị và các thành viên trẻ tuổi khác tìm hiểu và cảm nhận sâu sắc hơn nét đẹp của văn hóa Cơ Tu, lịch sử bất khuất của quê hương mình. Chị Xuân trò chuyện với chúng tôi bằng tiếng Kinh rõ ràng và lưu loát: "Mình làm hướng dẫn viên được gần 5 tháng rồi. Trước đây chưa quen mình run lắm mỗi khi nhận "tour". Giờ mình đã tự tin hơn để giới thiệu văn hóa Cơ Tu với khách du lịch Việt Nam và cả khách nước ngoài nữa".

Có thể thấy, dự án du lịch dựa vào cộng đồng này đã được người dân Cơ Tu từ già đến trẻ hưởng ứng rất nhiệt tình. Họ tham gia làm hướng dẫn viên trên tình thần tự nguyện. Chính những hướng dẫn viên không chuyên này đã giúp cho hơn 2.300 người dân tộc Cơ Tu tại xã Tà Bhing thêm tự hào về các kho tàng thiên nhiên và văn hóa của quê hương mình. Ngoài ra, họ còn giúp du khách hiểu và tôn trọng những giá trị, phong tục tập quán, văn hóa và xã hội của người dân địa phương.


Du khách nước ngoài trải nghiệm phong cách thiên nhiên cùng các cô gái Cơ Tu.

Thêm sức sống cho chủ thể văn hóa

Đến xã Tà Bhing, du khách không chỉ được tham quan di tích chiến tranh trên đường Hồ Chí Minh đoạn qua bến Giằng (H.Nam Giang) mà còn được tham gia vào các sinh hoạt văn hóa thường ngày của người dân Cơ Tu nơi đây. Được biết, từ năm 2001, với mong muốn khôi phục lại nghề dệt truyền thống Cơ Tu đang dần bị mai một, Tổ chức Cứu trợ và phát triển quốc tế (FIDR) đã phối hợp cùng UBND H.Nam Giang thành lập Hợp tác xã Dệt thổ cẩm truyền thống Cơ Tu-ZaRa. Dựa trên tay nghề sẵn có của phụ nữ Cơ Tu, Hợp tác xã Dệt thổ cẩm giờ đây không chỉ giúp cho các chị, các bà có thêm thu nhập từ việc bán vải thổ cẩm mà còn khiến cho nghề dệt truyền thống không bị mất đi theo thời gian.

Có được sự thành công trong việc làm du lịch như hôm nay chính là nhờ sự coi trọng các chủ thể văn hóa-đồng bào Cơ Tu. Bởi không ai hiểu rõ nét đẹp văn hóa truyền thống Cơ Tu hơn chính họ, không ai có thể tái hiện các sinh hoạt văn hóa truyền thống nếu không có sự tham gia trực tiếp của người Cơ Tu. Việc trình diễn điệu múa "Vũ điệu dâng trời" Tung tung-da dá truyền thống cho du khách chiêm ngưỡng là một ví dụ hay về nét tươi mới của du lịch dựa vào cộng đồng. Từ năm 2012, H.Nam Giang đã tuyển chọn những thanh niên Cơ Tu để thành lập đội múa Tung tung - da dá nhằm tập luyện cho các buổi trình diễn khi có khách du lịch đến thăm.

Chị Aviết (45 tuổi, xã Tà Bhing) có cả con trai và con dâu cùng tham gia đội múa này cho biết: "Từ khi có người trên huyện về làm du lịch, cả xã này rộn ràng lên nhiều lắm. Trai gái trong xã đều đi tập múa. Trẻ con cũng bắt chước múa theo". Theo chị Aviết, từ lúc làm du lịch đến nay, tình hình ANTT, vệ sinh môi trường trong xã được cải thiện rõ rệt. Trước đây ngoài nghề nông, thanh niên trong làng hay tập trung lại uống rượu thâu đêm rồi sinh ra gây gổ, phá phách. Bây giờ thì ai cũng lo tập múa, tập hát, tập làm hướng dẫn viên du lịch. Thanh niên xã Tà Bhing đã từng bước nhận thức được vai trò của mình trong việc nâng cao đời sống, phát triển văn hóa và xã hội cho đồng bào Cơ Tu.

Bà Nobuko Otsuki, Trưởng đại diện Tổ chức Cứu trợ và phát triển quốc tế - Nhật Bản là người vô cùng tâm huyết với dự án du lịch này. "Chứng kiến đời sống người dân từng bước được cải thiện nhờ làm du lịch, tôi vô cùng vui mừng và tự hào. Chúng tôi đã giúp đỡ làm du lịch ở nhiều nơi khó khăn trên thế giới nhưng đồng bào Cơ Tu ở đây là những người mang lại cho tôi nhiều ấn tượng nhất. Họ chính là những chủ thể văn hóa vô cùng quan trọng mà các bạn cần phải trân quý nhiều hơn nữa" - bà Otsuki chia sẻ.

Từ bài học trong cách làm du lịch của Hội An và làng cổ Đường Lâm (Hà Nội), giờ đây H.Nam Giang đang thật sự có được một sản phẩm du lịch đúng nghĩa dựa vào cộng đồng Cơ Tu. Đó là sự kết hợp không thể khác giữa những người làm du lịch văn hóa và chủ thể văn hóa nếu như muốn bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống. Dựa vào chủ thể văn hóa để làm du lịch và từ nguồn thu của dịch vụ du lịch quay trở lại bảo tồn, nuôi sống chủ thể văn hóa.

Nguyễn Tấn Việt

Nguyễn Tấn Việt. Thấy gì từ chuyến du lịch "Hương sắc Cơ Tu"?//Công an thành phố Đà Nẵng.- 2015.- Ngày 5 tháng 02.- Tr.6.


Thầy giáo 3 lần được gặp Bác Hồ

Trong buổi gặp mặt Hội Cựu giáo chức tỉnh Quảng Nam mới đây, các đại biểu rất bất ngờ được nghe câu chuyện về một thầy giáo 3 lần được gặp Bác Hồ. Đó là thầy giáo Doãn Mậu Hòe, năm nay trên 80 tuổi, quê ở xã Quế Phong, H. Quế Sơn...

17 tuổi, đang học THPT chuẩn bị thi lấy bằng tú tài thì chàng thanh niên Doãn Mậu Hòe xung phong lên đường đi bộ đội, từ năm 1949. Chiến đấu tại các chiến trường miền Nam, rồi  theo đoàn quân tập kết ra Bắc năm 1954, công tác tại Trung đoàn 108, thuộc Sư đoàn 305, năm 1958, Doãn Mậu Hòe nhận công tác tại Tổng cục Chính trị và tiếp tục học lớp bồi dưỡng giáo viên giảng dạy và sau đó làm công tác giảng dạy ở nhiều trường quân sự. Gần 35 năm, thầy giáo Doãn Mậu Hòe trực tiếp làm nghề cầm phấn, đào tạo cho hơn 20.000 học viên trong quân đội từ chiến sĩ đến các tướng lĩnh tại học viện Quân đội Nhân dân Việt Nam. Thầy chuyên dạy môn Vật lý, Hóa học các lớp tại chức cấp II, III cho cán bộ của cơ quan Tổng cục Chính trị.

 ​

Thầy Doãn Mậu Hòe.

Thời gian công tác và học tập tại miền Bắc, thầy Hòe rất vinh dự được gặp Bác Hồ 3 lần. Một lần Bác đến thăm Trường Đại học sư Phạm Hà Nội năm 1958, lần thứ 2 được gặp Bác đến nói chuyện với các cán bộ trung, cao cấp tại Tổng cục Chính trị vào năm 1962 và lần thứ 3 là vào một đêm chủ nhật năm 1964 Bác đến tại một đơn vị văn công thăm các diễn viên gần khu Cầu Giấy.

Thầy Hòe xúc động, bồi hồi nhớ lại: "Sáng 20-9-1958, Bác Hồ đến thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Hôm ấy, lớp học diễn ra bình thường như mọi ngày, bỗng có tiếng lao xao phía cuối lớp và tất cả sinh viên quay nhìn theo thì Bác Hồ đã nhanh chân tiến lên phía trên Hội trường. Bác đứng lên bục giảng nhìn một vòng quanh cả lớp. Một tràng pháo tay vang lên rồi không khí trở nên yên ắng. Thầy Hiệu trưởng Phạm Huy Thông cầm micro đưa cho Bác, Bác khoát tay ngỏ ý không dùng, đoạn Bác nói: "Hôm nay Bác đến thăm trường, thăm các thầy, cô và sinh viên; các cô các chú có biết tại sao mọi người trong xã hội đều tôn vinh người thầy không? Vì người thầy là tấm gương sáng trong mọi xử thế. Cho nên dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là cái gì? Là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đầy đủ đạo đức cách mạng thì có tài gì cũng vô dụng. Đạo đức cách mạng là gì? Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân. Bác căn dặn rất kỹ về tinh thần đoàn kết, khuyên, thầy trò yêu nghề, thương yêu nhau.

Người dạy: "Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là những người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không được đăng báo, không được thưởng huân chương này khác, nhưng những người thầy giáo là những anh hùng vô danh". Bác nhấn mạnh: "Có ba hạng người luôn được mang ơn và kính trọng. Một là các thầy-cô giáo dạy con em mình học, hai là thầy thuốc chữa bệnh cho con em mình và nhân dân, thứ ba là người cho mình mượn tiền gạo lúc khó khăn túng thiếu! Ba hạng người đó đều được tôn vinh! Hôm nay các cháu đang là sinh viên, ngày mai là giáo viên, là người "Kỹ sư" tâm hồn. Vì thế, đã là người thầy là phải hoàn thành nhiệm vụ được giao. Thầy dạy phải hơn trò về chữ và nghĩa, biết thương yêu học sinh, phải biết yêu người, yêu nghề, thật sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Khi ra trường các cô, chú phải quan hệ thật tốt với xã hội"!

Thầy Hòe hình dung lại ngày Bác Hồ đến thăm trường: "Tôi có lợi thế là ngồi dãy bàn phía trên, sát với nơi Bác Hồ đang nói chuyện, lắng nghe không sót một từ nào. Và từ lần đầu tiên được gặp Bác Hồ, nghe Bác Hồ nói chuyện, tinh thần tôi luôn có sức vươn lên mãi cho đến bây giờ!". Sau ngày giải phóng, về lại quê hương Quế Sơn và hiện nay thầy Hòe ở tại số 98 đường Nguyễn Văn Thoại, TP Đà Nẵng, thầy rất quan tâm đến sự nghiệp trồng người, làm Phó Chủ tịch Hội Khuyến học thành phố Đà Nẵng và là hội viên Hội Cựu giáo chức TP Đà Nẵng. Thầy giáo Doãn Mậu Hòe còn từng trực tiếp dạy văn hóa cho nhiều vị tướng trong quân đội Nhân dân Việt Nam.

Nguyễn Huy Hoàng

Nguyền Huy Hoàng. Thầy giáo 3 lần được gặp Bác Hồ// Công an thành phố Đà Nẵng.- 2015.- Ngày 10 tháng 02.- Tr.15.

 






Số lượt người xem: 2811
Danh sách ý kiến
Gửi bình luận
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by